CHIA SẺ

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Dương. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

CÂY PHI LAO LÀ GÌ?

Phi Lao là loài cây có nguồn gốc chính là từ Australia và những đảo thuộc phía tây Thái Bình Dương. Người Pháp đã đem cây Phi lao vào trồng ở Việt Nam từ năm 1896.


Cây Phi Lao

Hiện nay Phi Lao đã trở thành một trong những loài cây gỗ quen thuộc của Việt Nam. Hầu hết các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang đều trồng Phi Lao trên các bãi cát ven biển. Nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam trồng Phi Lao làm cây chắn gió, cây ven đường lấy bóng mát, hay trong công viên làm cây cảnh. 

Phi Lao là loài sống lâu, vì thế nó cũng được trồng tạo cảnh (Bonsai) có vẻ đẹp và trị giá không thua kém các loài cây nổi tiếng khác.

Lá Phi Lao có màu xanh đậm, tuy nhiên cũng có thể ngả sang màu đỏ khi vào mùa thu. Có trường hợp đột biến khác thường lá còn chuyển thành màu trắng. Mùa xuân cũng là mùa khoe sắc của lá và hoa Phi Lao, hoa đực được phát triển từ ngọn của lá cây. Khi hoa nở rộ trông xa lá cây như chuyển thành màu vàng úa. Nét đặc trưng của Phi Lao là lá liễu thướt tha vi vu theo gió.


Phi Lao là loài cây sống lâu

Quả Phi Lao thuộc dạng quả kép, khi chín có vỏ hóa gỗ và tự khai để phóng thích hạt ra ngoài. Hạt có khả năng tái sinh mạnh, cây con mọc khỏe và thích nghi với các đồi cát vàng ven biển rất tốt. Cây chịu được mặn, khô và gió, nên rất thích hợp với việc trồng tạo rừng phòng hộ, cố định cát ở các đồi cát di động ven biển.

Phi Lao có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới chính vì thế khi về Việt Nam cây có khả năng thích ứng rất tốt. Cây tỏ ra thích ứng về mặt khí hậu tương đối rộng, từ những khu vực có lượng mưa nhiều trung bình năm trên 2.000mm và không có mùa khô, đến khu vực khí hậu gió mùa có lượng mưa thấp 700-800mm và mùa khô kéo dài 6-7 tháng.

Cây sinh trưởng tốt nhất trên đất cát mới bồi tụ ven biển và đồng bằng; cũng có thể sống được trên đất cát nghèo, đất dốc tụ có tầng dày, thành phần cơ giới nhẹ, độ pH 5,5. Nhưng trên đất quá khô xấu, đất đồi tầng mỏng, lẫn nhiều đá, đất có thành phần cơ giới nặng, bí chặt, độ pH 4-4,5, cây sinh trưởng rất kém; lá vàng đỏ, thường biến dạng thành cây bụi, thấp, thân nhỏ, cành loà xoà trên mặt đất hoặc bị chết dần.


Phi Lao có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới

Cây sinh trưởng nhanh, cành lá sum suê, hệ rễ phát triển, rễ cọc ăn sâu đến 2m, rễ ngang lan rộng và có vi khuẩn cố định đạm Frankia; có thể chịu được gió bão cấp 10, chịu được cát vùi lấp, trốc rễ. Thân cây chịu được cát va đập, nếu cây bị cát vùi lấp, nó có thể ra lớp rễ phụ mới ở ngang mặt đất vì vậy ở Việt Nam, tới nay Phi Lao vẫn là cây gỗ số một được trồng trên vùng cát cố định và cát bay ven biển.

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

GIỚI THIỆU VỀ CÂY PHI LAO



Cây Phi Lao

Tên phổ thông :  Dương Liễu, Dương, Thông, Xì Lau
Tên khoa học  :  Casuarina equisetifolia J.R et G. Forst
Họ thực vật     :  họ Phi Lao – Casuarinaceae
Nguồn gốc xuất xứ : Châu Úc
Phân bổ ở Việt Nam : rộng khắp, nhất là vùng duyên hải miền Trung.

A. Đặc điểm hình thái:

Thân, tán , lá: Cây gỗ thường xanh, cao 15- 25m. Vỏ nâu nhạt, bong thành mảng, thịt nâu hồng. Cành nhỏ, có đốt, màu xanh lá cây, quang hợp thay cho lá. Lá tiêu giảm thành vảy nhỏ, bao quanh các đốt của cành, dài 1-2mm.

Hoa, quả, hạt: Hoa đơn tính, cùng gốc. Cụm hoa đực hình đuôi sóc, gồm nhiều hoa đực mọc vòng, không có bao hoa; gồm 1 nhị, lúc đầu có chỉ ngắn, sau kéo dài, bao phấn 2 ô. Cụm hoa cái đơn độc, mọc ở ngọn các cành bên, hoa cái cũng không bao hoa, đính vào nách của 1 lá bắc. Bầu 1 ô, 2 noãn, nhưng chỉ 1 noãn phát triển. Quả tập hợp trong một cụm quả (quả phức) hình bầu dục, hóa gỗ với các lá bắc tồn tại. Hạt 1, không có nội nhũ.

B. Đặc điểm sinh lý, sinh thái:

Tốc độ sinh trưởng: nhanh

Phù hợp với: thích ứng với điều kiện khí hậu tương đối rộng, các loại đất cát pha nhẹ mới bồi tụ ven biển và đồng bằng, tốt, sâu, ẩm, thoát nước, độ pH 6,5 -7,0.

Vỏ phi lao chứa tanin thường được dùng để thuộc da, nhuộm lưới đánh cá. Gỗ thường được dùng trong xây dựng, trụ mỏ, đóng đồ gỗ, làm cột điện và làm củi. Cành , lá rụng dưới rừng là nguồn củi đun chủ yếu cho nhân dân ở nhiều vùng ven biển.

Các cành và thân cây chịu cắt uốn nên còn dùng làm cây cảnh, cây bóng mát và cây bonsai. Ngoài ra, trong dân gian phi lao cũng được dùng làm thuốc, rễ cây dùng làm thuốc hỗ trợ điều trị tiêu chảy và kiết lị.